Du lịch Việt Nam_Giá trị lan toả


Theo Chỉ số Phát triển Du lịch và Lữ hành (TTDI) 2026 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới:

  • Hạ tầng vận tải hàng không Việt Nam đứng thứ 34 trong 110 nền kinh tế,
  • Hạ tầng và dịch vụ du lịch xếp thứ 74,
  • Tác động kinh tế – xã hội của du lịch xếp thứ 106.

Chỉ số sau cùng đánh giá mức lan tỏa kinh tế, chất lượng việc làm và bình đẳng giới, không phải bảng xếp hạng chi tiêu của khách. Những con số ấy, đặt ra câu hỏi: kết nối hàng không tiến nhanh, còn giá trị từ du lịch lan tới đời sống người dân được đến đâu?

Việt Nam đã làm, nhưng cần đo hiệu quả rõ hơn

Chúng ta không bắt đầu từ con số không. Vietnam Airlines đã tổ chức tham quan thành phố cho một số hành khách quá cảnh đủ điều kiện tại Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Nhiều doanh nghiệp kết hợp vé máy bay, lưu trú, vui chơi; chương trình OCOP và du lịch cộng đồng mở thêm kênh tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ địa phương. Chín tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón gần 17,7 triệu lượt khách quốc tế, khoảng 83% đến bằng đường hàng không; tổng thu du lịch, gồm cả khách nội địa, ước đạt 874 nghìn tỷ đồng.

Nhưng số lượt khách và tổng thu chưa cho biết nhà cung cấp địa phương nhận bao nhiêu đơn hàng, người lao động có việc làm ổn định đến đâu. Chính Phủ đã đặt mục tiêu phát triển du lịch giá trị gia tăng cao, tăng sức lan tỏa và thu hút khách lưu trú dài ngày. Điều cần bàn lúc này là chuyển định hướng ấy thành việc làm có thể kiểm tra, chứ không thêm một khẩu hiệu mới.

Theo tôi, có thể chọn một vài điểm đến có lượng khách quốc tế lớn như Đà Nẵng, Phú Quốc hoặc Khánh Hòa để rà soát chuỗi cung ứng của khách sạn, khu nghỉ dưỡng. Ngành du lịch phối hợp với ngành nông nghiệp, công thương và hiệp hội doanh nghiệp khảo sát xem các cơ sở lưu trú đang mua thực phẩm, đồ uống, đồ dùng từ đâu; nhóm sản phẩm nào địa phương có thể cung cấp ổn định. Trong sáu tháng, xác định nhu cầu và vướng mắc về chất lượng, bảo quản, giao hàng, rồi mới hỗ trợ đúng đối tượng.

Không nên yêu cầu khách sạn mua hàng địa phương bằng mọi giá. Một khu nghỉ dưỡng phải giữ chuẩn an toàn thực phẩm, chất lượng và thời gian giao hàng. Hộ sản xuất nhỏ muốn vào được chuỗi cung ứng cần hợp tác xã hoặc doanh nghiệp đầu mối, có kho bảo quản, truy xuất nguồn gốc, hợp đồng rõ ràng. Đây chính là chỗ logistics (dịch vụ hậu cần) phát huy tác dụng: thực phẩm từ nông trại đến bàn ăn phải được bảo quản, vận chuyển và giao đúng hẹn. Nhà nước hỗ trợ kết nối và tiêu chuẩn; doanh nghiệp quyết định mua theo chất lượng và hiệu quả.

Với hành trình của khách cũng vậy. Một đường bay mới cần được tính cùng giao thông nối sân bay với điểm đến, lịch trình tham quan, dịch vụ số và những trải nghiệm khiến khách muốn ở thêm. Những mô hình liên kết đã có nên được đánh giá bằng số khách sử dụng, thời gian lưu trú và chi tiêu theo nhóm dịch vụ, thay vì chỉ đếm số thỏa thuận hợp tác đã ký.

Cuối cùng, cần nhìn sâu hơn vào người lao động. Bao nhiêu công việc được tạo ra là thường xuyên, có đào tạo và có thu nhập tốt? Tỷ lệ mua hàng tại chỗ biến động ra sao? Các địa phương có thể khảo sát định kỳ, công bố phương pháp đo, đánh giá sau một năm thí điểm rồi mới nhân rộng. Không có những dữ liệu ấy, chúng ta dễ vui vì khách tăng mà chưa biết lợi ích được chia sẻ như thế nào.

(Nguồn: https://dantri.com.vn/tam-diem/khi-hang-khong-dung-thu-34-the-gioi-du-lich-viet-nam-dang-bo-lo-dieu-gi-20261013183326641.htm )